• English
    • Tiếng Việt
    • 日本語
  • Tiếng Việt 
    • English
    • Tiếng Việt
    • 日本語
  • Đăng nhập
View Item 
  •   Trang chủ
  • Y, DƯỢC
  • Dược học
  • View Item
  •   Trang chủ
  • Y, DƯỢC
  • Dược học
  • View Item
JavaScript is disabled for your browser. Some features of this site may not work without it.

Khảo sát việc sử dụng voriconazol trong điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Thumbnail
Xem/Mở
Khảo sát việc sử dụng voriconazol trong điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (1.480Mb)
Năm xuất bản
2026
Tác giả
Nguyễn, Thiên Dung
Mai, Phương Thảo
Nguyễn, Tử Thiện Tâm
Đặng, Nguyễn Đoan Trang
Metadata
Hiển thị đầy đủ biểu ghi
Tóm tắt
Voriconazol là thuốc kháng nấm đầu tay trong điều trị nhiễm nấm xâm lấn do Aspergillus và xuống thang trong một số trường hợp nhiễm Candida. Việc sử dụng hợp lý voriconazol giúp tối ưu hoá điều trị và giảm thiểu độc tính do thuốc. Với mục tiêu khảo sát đặc điểm sử dụng và độc tính liên quan đến voriconazol trên bệnh nhân được chỉ định voriconazol điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh (BV ĐHYD TP.HCM). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được chỉ định voriconazol điều trị nhiễm nấm xâm lấn tại BV ĐHYD TP.HCM từ tháng 10/2021 đến tháng 03/2025. Thông tin về đặc điểm dịch tễ, vi sinh, sử dụng thuốc và các độc tính liên quan được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án. Kết quả: Có 220 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu với tuổi trung là 65,7 ± 14,1, nam giới chiếm 57,7%. Có 50% dân số nghiên cứu có bệnh nền đái tháo đường. Có 37,7% bệnh nhân có bằng chứng chắc chắn nhiễm nấm xâm lấn và Aspergillus là tác nhân được phân lập với tỷ lệ cao nhất (54,5%). Trung vị liều tải và liều duy trì voriconazol lần lượt là 6,1 (5,6 - 6,9) mg/kg/liều và 3,6 (3,1 - 4,0) mg/kg/liều. Các chế độ liều thấp hơn được ghi nhận trên bệnh nhân xơ gan. Tỷ lệ phù hợp về liều so với hướng dẫn bệnh viện của liều tải và liều duy trì lần lượt là 53,0% và 75,0%. Độc tính trên gan xuất hiện trên 16,1% bệnh nhân với thời điểm khởi phát trung vị là 7,0 (3,0 - 9,0) ngày. Có 14 bệnh nhân được ghi nhận độc tính trên thần kinh và/hoặc thị giác. Hầu hết các độc tính thuyên giảm sau khi giảm liều mà không cần phải ngừng thuốc. Kết luận: Tỷ lệ hợp lý về liều tải voriconazol còn thấp, trong khi đó liều duy trì tương đối tuân thủ hướng dẫn điều trị và phù hợp với các khuyến cáo trên bệnh nhân châu Á. Cần tối ưu chế độ liều kinh nghiệm cũng như theo dõi nồng độ thuốc để hạn chế độc tính của voriconazol trong quá trình sử dụng.
Định danh
http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5188
Collections
  • Dược học

DSpace software copyright © 2002-2016  DuraSpace
Liên hệ | Gửi phản hồi
Theme by 
Atmire NV
 

 

Duyệt theo

Toàn bộ thư việnĐơn vị và Bộ sưu tậpNăm xuất bảnTác giảNhan đềChủ đềTrong Bộ sưu tậpNăm xuất bảnTác giảNhan đềChủ đề

Tài khoản

Đăng nhậpĐăng ký

DSpace software copyright © 2002-2016  DuraSpace
Liên hệ | Gửi phản hồi
Theme by 
Atmire NV