<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" version="2.0">
<channel>
<title>Môi trường nước</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/21</link>
<description/>
<pubDate>Mon, 17 Aug 2026 17:19:12 GMT</pubDate>
<dc:date>2026-08-17T17:19:12Z</dc:date>
<item>
<title>Xi măng đất - vật liệu tiềm năng làm kết cấu bảo vệ đê bối vùng Đồng bằng sông Hồng cho phép nước tràn qua</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5142</link>
<description>Xi măng đất - vật liệu tiềm năng làm kết cấu bảo vệ đê bối vùng Đồng bằng sông Hồng cho phép nước tràn qua
Nguyễn, Hữu Thảnh; Nguyễn, Hữu Huế; Đặng, Công Hưởng
Vùng Đồng bằng sông Hồng hiện có 4.140,74 km đê; trong đó có 568,26 km đê bối chiếm 13,72%. Trong những năm vừa qua, các tuyến đê bối thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề bởi lũ lụt, đã không ít lần xảy ra sự cố tràn đê, vỡ đê gây hậu quả to lớn về mặt kinh tế và xã hội. Theo quy định hiện hành yêu cầu “phải có giải pháp chủ động đưa nước vào trong bối khi có lũ từ báo động II trở lên”. Tuy nhiên, các tuyến đê bối hiện nay đều chưa có giải pháp chống xói lở trong trường hợp nước tràn qua, giải pháp chủ yếu vẫn là trồng cỏ nên khả năng chống xói rất thấp. Hiện nay có nhiều giải pháp bảo vệ đê khi nước tràn qua, mỗi giải pháp được lựa chọn phụ thuộc vào đặc điểm của dòng chảy tràn, tính năng của loại vật liệu được sử dụng cũng như khả năng chấp nhận rủi ro của chủ sở hữu. Giải pháp sử dụng vật liệu xi măng đất làm kết cấu bảo vệ đê bối, cho phép nước tràn qua được xem là phù hợp, đem lại hiệu quả về mặt kinh tế, kỹ thuật; phù hợp với các tuyến đê bối có quy mô nhỏ, vùng được bảo vệ ít dân cư và ít cơ sở hạ tầng quan trọng. Ưu điểm nổi bật của giải pháp này là tận dụng được đất tại chỗ, giảm chi phí vận chuyển vật liệu và giảm giá thành xây dựng, giảm nhu cầu sử dụng các loại vật liệu cao cấp khác như cát, sỏi, đá, bê tông.
</description>
<pubDate>Thu, 01 Jan 2026 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5142</guid>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Nghiên cứu đánh giá vi nhựa trong vẹm xanh (Perna viridis) tại một số khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5071</link>
<description>Nghiên cứu đánh giá vi nhựa trong vẹm xanh (Perna viridis) tại một số khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh
Dương, Tuấn Mạnh; Lê, Xuân Thanh Thảo; Huỳnh, Đức Long; Đỗ, Văn Mạnh
Nghiên cứu này tập trung vào xác định sự hiện diện của vi nhựa trong loài vẹm xanh (Perna viridis) thu thập từ bốn khu vực: Hạ Long, Vân Đồn, Móng Cái và đảo Cô Tô thuộc tỉnh Quảng Ninh. Vi nhựa trong vẹm xanh sau khi tách chiết được phân tích bằng kính hiển vi hồng ngoại Nicolet iN10 MX. Kết quả nghiên cứu cho thấy, 91,7% cá thể vẹm xanh nghiên cứu có chứa vi nhựa. Giá trị mật độ dao động trong khoảng từ 0,45±0,41 đến 0,91±0,78 vi nhựa/g thịt ướt và từ 2,73±2,02 đến 5,33±4,61 vi nhựa/cá thể. Phần lớn các vi nhựa có kích thước nhỏ hơn 150 µm, vi nhựa nhỏ nhất được phát hiện có chiều dài 22,5 µm và lớn nhất là 1269,6 µm. Vi nhựa được phát hiện chủ yếu ở dạng mảnh. Một số chủng loại polyme phổ biến sử dụng để sản xuất nhựa được tìm thấy như: polyethylene terephthalate (PET), polyamide (PA), polyethylene (PE), polypropylene (PP) và một số loại khác, trong đó PET chiếm tỷ lệ nhiều nhất, tới 67,9% trên tổng số vi nhựa phát hiện. Kết quả thu được từ nghiên cứu này là tiền đề đánh giá nguy cơ tiềm ẩn của vi nhựa đối với sức khỏe con người và bổ sung dữ liệu ô nhiễm vi nhựa trong môi trường tại Việt Nam.
Nghiên cứu đánh giá vi nhựa trong vẹm xanh (Perna viridis) tại một số khu vực ven biển tỉnh Quảng Ninh
</description>
<pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5071</guid>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Đánh giá khả năng ứng dụng số liệu sóng tái phân tích cho khu vực Biển Đông</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5006</link>
<description>Đánh giá khả năng ứng dụng số liệu sóng tái phân tích cho khu vực Biển Đông
Xuân Hiển, Nguyễn; Ngọc Tiến, Dương; Thị Vui, Vũ; Ngọc Ánh, Giáp; Hoàng Anh, Cao
Bài báo đánh giá độ tin cậy và khả năng ứng dụng các nguồn số liệu độ cao sóng tái phân tích khác nhau của Trung tâm Dự báo Thời tiết hạn vừa Châu Âu (ECMWF) và Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA) tại khu vực biển Việt Nam. Số liệu quan trắc từ các trạm phao cố định tại khu vực biển Việt Nam được sử dụng để so sánh, đánh giá mức độ tương đồng với số liệu độ cao sóng tái phân tích. Kết quả đánh giá cho thấy cả hai nguồn dữ liệu độ cao sóng tái phân tích đều tương đồng cao với độ cao sóng đo đạc từ trạm phao nhưng mức độ tương đồng của ECMWF cao hơn. Cả hai nguồn số liệu độ cao sóng tái phân tích đều thấp hơn độ cao sóng thực đo tại trạm phao tại các thời điểm sóng lớn. Nghiên cứu cũng đề xuất phương án sử dụng hàm chuyển để hiệu chỉnh, ứng dụng số liệu sóng tái phân tích và đánh giá khả năng ứng dụng của các nguồn số liệu sóng tái phân tích.
Đánh giá khả năng ứng dụng số liệu sóng tái phân tích cho khu vực Biển Đông
</description>
<pubDate>Wed, 01 Jan 2025 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5006</guid>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item>
<title>Chất lượng môi trường đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Long An</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4873</link>
<description>Chất lượng môi trường đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Long An
Lê, Diễm Kiều; Phạm, Quốc Nguyên
Tóm tắt nội dung: Nghiên cứu hiện trạng chất lượng đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, huyện Tân Hưng, tỉnh Long An được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu về chất lượng môi  trường đất phục vụ cho công tác bảo tồn, thông qua     &#13;
thông số pHH2O, pHKCl, độ dẫn điện, axit tổng, chất hữu cơ, đạm tổng và lân tổng của tầng đất 0-20cm và 20-50cm ở các tiểu khu 5, 6, 9, 10, 11 và 12 vào mùa khô (2023). Kết quả đã ghi nhận được đất ở khu vực nghiên cứu có tính axit cao với pHH2O, pHKCl, axit tổng lần lượt 2,60-4,27; 2,60-3,63 và 2,92-19,63meq H+/100g đất. Hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng của đất khá cao, tuy nhiên hàm lượng lân tổng ở mức thấp lần lượt là 8,09-24,15%; 0,29-2,27%; 0,006-0,021%. Đất ở tầng 0-20m có pH, độ dẫn điện, chất hữu cơ, đạm tổng, lân tổng cao hơn so với tầng 20-50cm ở hầu hết các tiểu khu. Tiểu khu 9, 10 và 5 có pH cao hơn nhưng lại có axit tổng, chất hữu cơ, đạm và lân tổng thấp hơn các tiểu khu còn lại. Sự biến động các thành phần lý, hóa học đất ở các tiểu khu và theo tầng chịu ảnh   hưởng nhiều của chế độ quản lý nước. Chất lượng đất hầu hết đều phù hợp cho sinh trưởng của các loài thực vật ưu thế ở các tiểu khu, tuy nhiên nên hạn chế tình trạng khô hạn vào cuối mùa khô ở tiểu khu 6, 11 và 12 và tình trạng ngập nước liên tục ở tiểu khu 9 và 10.
Chất lượng môi trường đất ở khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, Huyện Tân Hưng, Tỉnh Long An
</description>
<pubDate>Mon, 01 Jan 2024 00:00:00 GMT</pubDate>
<guid isPermaLink="false">http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4873</guid>
<dc:date>2024-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
</channel>
</rss>
