<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<channel rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/6">
<title>Chính sách phát triển</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/6</link>
<description/>
<items>
<rdf:Seq>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5294"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5002"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4999"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4645"/>
</rdf:Seq>
</items>
<dc:date>2026-10-28T19:06:51Z</dc:date>
</channel>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5294">
<title>Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững ở xã Phù Mỹ Tây, tỉnh Gia Lai</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5294</link>
<description>Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững ở xã Phù Mỹ Tây, tỉnh Gia Lai
Thị Ngân Loan, Nguyễn; Thị Anh Thư, Ngô
Bài viết phân tích thực trạng và định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững tại xã Phù Mỹ Tây, tỉnh Gia Lai. Nhờ vị trí giao thông thuận lợi và công tác quản lý hiệu quả, xã đã đạt nhiều thành tựu, hoàn thành mục tiêu nông thôn mới nâng cao năm 2024, và bước đầu xây dựng các chuỗi liên kết giá trị cùng mô hình chăn nuôi công nghệ cao. Tuy nhiên, địa phương vẫn gặp nhiều rào cản do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, đất đai manh mún làm hạn chế ứng dụng cơ giới hóa. Ngành nghề nông thôn phát triển chậm, mô hình hợp tác xã hoạt động chưa thực sự hiệu quả và khâu tiêu thụ vẫn còn phụ thuộc nhiều vào thị trường. Bài viết đề xuất các giải pháp trọng tâm để khắc phục những hạn chế này.
Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững ở xã Phù Mỹ Tây, tỉnh Gia Lai
</description>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5002">
<title>Ứng dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) xác định khu vực thích hợp cho chăn nuôi lợn tập trung huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5002</link>
<description>Ứng dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) xác định khu vực thích hợp cho chăn nuôi lợn tập trung huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Hữu Dương, Nông; Thu Thùy, Nguyễn; Thị Xuân, Vũ
Trong chăn nuôi, việc đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và tối ưu hóa tài nguyên đóng vai trò rất quan trọng. Do vậy, việc lựa chọn vị trí trang trại phù hợp là điều rất cần thiết. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định khu vực phù hợp cho chăn nuôi lợn tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang thông qua việc đánh giá tổng hợp các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường. Nghiên cứu này sử dụng Hệ thống thông tin Địa lý (GIS) kết hợp với phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) để xây dựng bộ tiêu chí, xác định trọng số cho từng chỉ tiêu và nhóm chỉ tiêu, sau đó áp dụng phương pháp chồng xếp có trọng số trong GIS để thành lập bản đồ phân vùng mức độ phù hợp. Kết quả cho thấy các khu vực được phân loại thành bốn mức độ khác nhau gồm “không phù hợp”, “ít phù hợp”, “phù hợp” và “rất phù hợp”, từ đó cung cấp bản đồ phân vùng chi tiết cho việc lựa chọn địa điểm chăn nuôi. Nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của việc kết hợp GIS và AHP trong hỗ trợ ra quyết định đa chỉ tiêu, góp phần cung cấp thông tin hữu ích cho quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường trong lĩnh vực chăn nuôi lợn.
Ứng dụng GIS và phương pháp phân tích thứ bậc (AHP) xác định khu vực thích hợp cho chăn nuôi lợn
</description>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4999">
<title>Tổng quan chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa gạo: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4999</link>
<description>Tổng quan chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa gạo: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam
Thị Việt Anh, Bùi; Phượng Lê, Nguyễn; Thị Thanh Loan, Lê
Bảo hiểm nông nghiệp là công cụ bảo hiểm rủi ro cho người sản xuất nông nghiệp, giúp họ có thể phục hồi nhanh hơn sau các cú sốc, đồng thời thúc đẩy quản trị sản xuất tốt hơn. Để phát triển và đưa bảo hiểm nông nghiệp vào áp dụng trong thực tiễn cho cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng và thực hiện nhiều chính sách khác nhau. Bài viết sử dụng phương pháp khảo cứu, tổng quan và phân tích dữ liệu từ các bài báo khoa học, các báo cáo nghiên cứu, các website chính thức và một số đánh giá từ khảo sát trực tiếp năm 2024 nhằm mục tiêu: (i) Tổng hợp và phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trong xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp cho cây trồng; (ii) Rút ra một số bài học kinh nghiệm và (iii) Đề xuất một số khuyến nghị cho thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp trên cây lúa ở Việt Nam trong thời gian tới.
Tổng quan chính sách bảo hiểm nông nghiệp trong sản xuất lúa gạo
</description>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4645">
<title>Chất thải nông nghiệp và tiềm năng phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/4645</link>
<description>Chất thải nông nghiệp và tiềm năng phát triển nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn
Văn Trịnh, Mai
Kết quả nghiên cứu cho thấy hằng năm từ phụ phẩm trồng trọt có thể sản xuất được lượng phân bón tương đương với 43,4 triệu tấn hữu cơ, 1,86 triệu tấn đạm urê, 1,68 triệu tấn supe lân đơn và 2,23 triệu tấn kali sunfat. Từ chất thải chăn nuôi có thể sản xuất lượng phân bón tương đương với 42 triệu tấn hữu cơ nguyên chất, 1,2 triệu tấn đạm urê, 3,1 triệu tấn supe lân đơn và 2,4 triệu tấn kali sunfat. Chất thải từ cả 2 lĩnh vực có thể cung cấp cho sản xuất lượng phân bón tương đương với 85,4 triệu tấn hữu cơ, 3,06 triệu tấn đạm urê, 4,78 triệu tấn supe lân đơn và 4,63 triệu tấn kali sunfat. Tuy nhiên hiện trạng sử dụng các loại chất thải này ở mức rất thấp, vừa không tận dụng được nguồn tài nguyên, vừa phát thải ra và gây ô nhiễm môi trường. Việc tăng cường tuần hoàn tái sử dụng lại các loại chất thải này cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa 2 lĩnh vực, kết hợp với chính sách của Nhà nước làm thông thoáng và tăng thu nhập từ chất thải và phụ phẩm trong các trang trại thì mới khắc phục, hạn chế được tinh trạng ô nhiễm, đáp ứng nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp theo hướng kinh tế tuần hoàn và tiến đến một nền nông nghiệp bền vững.
pdf
</description>
<dc:date>2021-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
</rdf:RDF>
