<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rdf:RDF xmlns="http://purl.org/rss/1.0/" xmlns:rdf="http://www.w3.org/1999/02/22-rdf-syntax-ns#" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<channel rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/13">
<title>Y tế</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/13</link>
<description/>
<items>
<rdf:Seq>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5211"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5210"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5209"/>
<rdf:li rdf:resource="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5208"/>
</rdf:Seq>
</items>
<dc:date>2026-08-17T17:13:21Z</dc:date>
</channel>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5211">
<title>Thực trạng mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5211</link>
<description>Thực trạng mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông
Vũ, Đình Nam; Nguyễn, Đức Tú; Vũ, Thị Thùy Linh; Nguyễn, Đức Anh
Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và các chỉ định mổ lấy thai con so tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ 1/7/2024 đến 30/6/2025. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 1167 sản phụ con so được mổ lấy thai có hồ sơ bệnh án lưu trữ tại Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ 1/7/2024 đến 30/6/2025. Kết quả: Tuổi mẹ trung bình 28,6 ± 5,2 tuổi; tuổi thai trung bình 38,8 ± 1,4 tuần. Mổ cấp cứu chiếm 72,6%. Một số sản phụ có tình trạng thiếu máu, thiểu ối, vị trí rau bám bất thường. Chỉ định mổ do nguyên nhân từ thai chiếm tỉ lệ cao nhất (67,4%), tiếp theo là nguyên nhân do chuyển dạ bất thường (13,1%), nguyên nhân do mẹ (7,9%), phần phụ của thai (6,8%) và lý do xã hội (4,8%), trong đó thai suy là nguyên nhân đơn lẻ thường gặp nhất. Kết luận: Mổ lấy thai con so tại Khoa Sản, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông thường gặp ở sản phụ trẻ, thai đủ tháng, với tỉ lệ mổ cấp cứu cao. Nhiều trường hợp có bất thường cận lâm sàng liên quan đến bệnh lý thai kỳ. Lý do xã hội vẫn chiếm tỉ lệ đáng kể, nhấn mạnh vai trò của tư vấn sản khoa và tối ưu hóa chỉ định mổ.
</description>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5210">
<title>Nhận xét tỉ lệ biến chứng và các yếu tố liên quan trong phẫu thuật cắt gan do ung thư biểu mô tế bào gan</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5210</link>
<description>Nhận xét tỉ lệ biến chứng và các yếu tố liên quan trong phẫu thuật cắt gan do ung thư biểu mô tế bào gan
Lương, Duy Trường; Huỳnh, Thanh Long
Xác định tỉ lệ biến chứng và các yếu tố liên quan trong phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang trên 95 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan được phẫu thuật cắt gan tại Bệnh viện Bình Dân từ 01/2022 đến 07/2025. Chức năng gan trước mổ được đánh giá bằng Child–Pugh, ALBI và MELD. Các biến chứng sau mổ và yếu tố liên quan được phân tích thống kê. Kết quả: Tỉ lệ biến chứng chung sau mổ là 29,5%. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với biến chứng gồm: bệnh lý nền (p=0,048), tiền sử cắt gan (p=0,037), mổ mở (p=0,046), thời gian mổ &gt;180 phút (p=0,003) và lượng máu mất ≥500 ml (p=0,002). Nhóm ALBI cao hơn và MELD cao hơn có xu hướng tăng nguy cơ biến chứng. Kết luận: Phẫu thuật cắt gan điều trị ung thư biểu mô tế bào gan có tỉ lệ biến chứng chấp nhận được. Biến chứng sau mổ liên quan đến bệnh lý nền và yếu tố phẫu thuật, đặc biệt là thời gian mổ và lượng máu mất. ALBI và MELD giúp phân tầng chức năng gan khách quan hơn ở bệnh nhân Child–Pugh A, góp phần cải thiện đánh giá nguy cơ trước mổ.
</description>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5209">
<title>Độ nhạy, độ đặc hiệu của các công cụ tầm soát huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới ở bệnh nhân hồi sức tích cực: Tổng quan luận điểm</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5209</link>
<description>Độ nhạy, độ đặc hiệu của các công cụ tầm soát huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới ở bệnh nhân hồi sức tích cực: Tổng quan luận điểm
Nguyễn, Thị Phương; Nguyễn, Ngọc Quang; Phạm, Hồng Phương; Đỗ, Văn Bắc; Trần, Khánh Toàn
Đánh giá độ nhạy, độ đặc hiệu của các công cụ tầm soát huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới (HKTMSCD) ở bệnh nhân (BN) hồi sức tích cực (HSTC). Phương pháp: Tổng quan luận điểm. Các nghiên cứu (NC) được tìm kiếm từ Pubmed, MED LINE, thư viện điện tử trường ĐHY Hà Nội, Thư viện điện tử quốc gia đến tháng 9/2024. Kết quả: Sau khi tiến hành tìm kiếm một cách có hệ thống trên các cơ sở dữ liệu đã tìm được 24 NC phù hợp, tiến hành trên 19.771 BN (Thời gian từ năm 2000 đến 2024); Chụp tĩnh mạch là tiêu chuẩn vàng nhưng ít áp dụng trên lâm sàng. Siêu âm Doppler mạch máu (DUS) được xem là “tiêu chuẩn vàng” trong các NC tầm soát HKTMSCD ở BN nguy kịch; 3 phương pháp tầm soát huyết khối được so sánh với DUS gồm: D-Dimer: Độ nhạy 55,9%-97,9% (cao hơn khi điều chỉnh theo tuổi và điểm Wells), độ đặc hiệu 97,5%; siêu âm nén 2 điểm và 3 điểm: Độ nhạy 63% 86%, độ đặc hiệu 96%-98%; thang điểm Wells: Độ nhạy 30%, độ đặc hiệu 97,5%. Kết luận: Chụp tĩnh mạch là tiêu chuẩn vàng nhưng ít áp dụng trên lâm sàng. DUS được xem là công cụ tầm soát hiệu quả nhất cho BN nặng nằm ở các đơn vị HSTC.
</description>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
<item rdf:about="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5208">
<title>Ứng dụng của siêu âm tim trong đánh giá chức năng thất phải ở bệnh nhân sau phẫu thuật bắc cầu chủ - vành</title>
<link>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5208</link>
<description>Ứng dụng của siêu âm tim trong đánh giá chức năng thất phải ở bệnh nhân sau phẫu thuật bắc cầu chủ - vành
Lê, Thị Lương
Rối loạn chức năng thất phải là biến chứng thường gặp và có ý nghĩa ở bệnh nhân sau phẫu thuật bắc cầu nối động mạch chủ – vành (CABG), liên quan đến tỷ lệ tử vong và các biến cố tim mạch hậu phẫu. Do đó, đánh giá chính xác chức năng thất phải đóng vai trò thiết yếu trong theo dõi và phân tầng nguy cơ. Siêu âm tim là phương tiện được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng cho phép đánh giá chức năng thất phải và cung cấp các thông tin huyết động quan trọng sau phẫu thuật. Mục tiêu của bài tổng quan này là cập nhật và hệ thống hóa các bằng chứng về ứng dụng của siêu âm tim trong đánh giá chức năng thất phải ở bệnh nhân sau phẫu thuật CABG, đồng thời phân tích giá trị lâm sàng và tiên lượng của các thông số siêu âm. Bài viết tập trung vào các kỹ thuật chính gồm siêu âm hai chiều, Doppler mô, các thông số huyết động như áp lực động mạch phổi và siêu âm đánh giá sức căng thất phải.
</description>
<dc:date>2026-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</item>
</rdf:RDF>
