<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<feed xmlns="http://www.w3.org/2005/Atom" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
<title>Y tế</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/13" rel="alternate"/>
<subtitle/>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/13</id>
<updated>2026-05-07T18:45:19Z</updated>
<dc:date>2026-05-07T18:45:19Z</dc:date>
<entry>
<title>Chất lượng hình ảnh của cắt lớp vi tính liều thấp trong theo dõi các bệnh nhân chấn thương sọ não</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5119" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Đình Minh</name>
</author>
<author>
<name>Phạm, Thị Nga</name>
</author>
<author>
<name>Trần, Quang Hải</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5119</id>
<updated>2025-10-24T09:40:06Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Chất lượng hình ảnh của cắt lớp vi tính liều thấp trong theo dõi các bệnh nhân chấn thương sọ não
Nguyễn, Đình Minh; Phạm, Thị Nga; Trần, Quang Hải
Đánh giá chất lượng hình ảnh trên cắt lớp vi tính liều thấp (LDCT) trong theo dõi chấn thương sọ não (CTSN). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả so sánh 36 bệnh nhân (BN) đang điều trị CTSN được chụp LDCT sọ não để theo dõi với tham số 80kV và so sánh chụp liều tiêu chuẩn (SDCT) với 130kV khi vào viện tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 3/2024 đến tháng 10/2024. Liều chiếu của các BN được thu thập qua các thông số chỉ số liều (CTDIvol), liều tích lũy (DLP) và liều hiệu dụng (ED). Chất lượng hình ảnh được so sánh dựa trên qua các tiêu chí như nhiễu, nhiễu ảnh, giải phẫu, não thất, dịch não tủy, đường giữa, phân biệt chất trắng – chất xám, máu tụ, ranh giới máu tụ, dị vật sau mổ bằng cách cho điểm (1- hình ảnh chất lượng tốt, 2- hình ảnh chấp nhận được, 3- không chấp nhận được). Kết quả: CTDIvol trên LDCT giảm 35% so với trên SDCT. DLP và ED giảm 45% trên LDCT so với SDCT. Phần lớn hình ảnh LDCT (97%) được đánh giá là đủ chất lượng chẩn đoán (điểm 1 và 2). Mặt khác, trên 60% BN được đánh giá có chất lượng hình ảnh LDCT tương đương với SDCT. Các tổn thương não như máu tụ, ranh giới máu tụ, dị vật sau mổ có khác biệt không đáng kể về chất lượng hình ảnh. Kết luận: chụp LDCT giảm đáng kể liều chiếu trong khi vẫn đáp ứng được chất lượng hình ảnh để chẩn đoán trong theo dõi các trường hợp đang điều trị CTSN
Chất lượng hình ảnh của cắt lớp vi tính liều thấp trong theo dõi các bệnh nhân chấn thương sọ não
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5118" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Thanh Chơn</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Văn Lâm</name>
</author>
<author>
<name>Ngô, Trí Minh Phương</name>
</author>
<author>
<name>Võ, Thị Hậu</name>
</author>
<author>
<name>Hoàng, Minh Tú</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, Hữu Giàu</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5118</id>
<updated>2025-10-24T09:38:15Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa
Nguyễn, Thanh Chơn; Nguyễn, Văn Lâm; Ngô, Trí Minh Phương; Võ, Thị Hậu; Hoàng, Minh Tú; Nguyễn, Hữu Giàu
Có nhiều phương pháp kết hợp xương cho điều trị gãy kín thân xương cánh tay. Sử dụng nẹp khóa, cho phép sử dụng vít thông thường và vít khóa, giúp ổn định và hạn chế biến chứng, đồng thời cho phép bệnh nhân vận động sớm. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm chung và đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu, can thiệp lâm sàng không nhóm chứng ở 31 bệnh nhân được chẩn đoán gãy kín thân xương cánh tay 1 hoặc 2 bên và có chỉ định phẫu thuật kết hợp xương nẹp bằng khóa. Kết quả: Độ tuổi thường gặp nhất là 16-40 tuổi, với nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (29%). Bệnh nhân gãy loại A tại 1/3 giữa theo phân độ AO chiếm tỷ lệ cao nhất 48,4%. Kết quả liền xương rất tốt chiếm tỷ lệ cao nhất là 96,8%; không có bệnh nhân nào cho kết quả liền xương trung bình và kém. Về kết quả phục hồi chức năng khớp vai và khớp khuỷu, phục hồi chức năng rất tốt chiếm tỷ lệ 96,8%; không có kết quả trung bình và kém. Kết luận: Phẫu thuật kết hợp xương nẹp bằng khóa điều trị gãy kín thân xương cánh tay an toàn và kết quả tốt.
Đánh giá kết quả điều trị gãy kín thân xương cánh tay bằng nẹp khóa
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Nguy cơ té ngã và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy tim nhập viện</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5116" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Phú Cường</name>
</author>
<author>
<name>Trần, Kim Trang</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5116</id>
<updated>2025-10-24T09:32:44Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Nguy cơ té ngã và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy tim nhập viện
Nguyễn, Phú Cường; Trần, Kim Trang
Té ngã là biến cố bất lợi lớn tại bệnh viện và bệnh nhân suy tim ≥ 65 tuổi có nguy cơ té ngã cao hơn 14% so với những người không mắc suy tim[1]. Công cụ đánh giá nguy té ngã Johns Hopkins (JHFRAT) được sử dụng rộng rãi chăm sóc người bệnh bao gồm cả người suy tim. JHFRAT là một công cụ hữu ích giúp cho người điều dưỡng có thể lượng giá nguy cơ và thực hiện các biện pháp chăm sóc toàn diện bệnh nhân suy tim nhưng cần phối hợp với bác sĩ trong việc thu thập thêm thông tin về triệu chứng lâm sàng, điều chỉnh phác đồ điều trị, tư vấn sử dụng các thiết bị hỗ trợ, hướng dẫn bệnh nhân và gia đình. Mục tiêu: Xác định sự phân bố các mức nguy cơ té ngã và các mối liên quan đến nguy cơ té ngã trên bệnh nhân suy tim nhập viện. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả 91 trường hợp suy tim nhập khoa Nội Tim mạch bệnh viện Chợ Rẫy. Các bệnh nhân được thu thập thông tin và đánh giá nguy cơ té ngã bằng công cụ Johns Hopkins. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 60,8 ± 14,5, nam giới chiếm 42,9%. Bệnh nhân suy tim có nguy cơ té ngã cao chiếm 28,6%, nguy cơ trung bình và thấp lần lượt là 47,2% và 24,2%. Các mối liên quan đến nguy cơ té ngã trên bệnh nhân suy tim bao gồm hội chứng mạch vành mạn, hạ kali máu, sử dụng lợi tiểu furosemide, ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể và nitrate. Kết luận: nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, xem xét sử dụng công cụ Johns Hopkins để đánh giá nguy cơ té ngã ở bệnh nhân suy tim điều trị nội trú
Nguy cơ té ngã và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy tim nhập viện
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
<entry>
<title>Nghiên cứu biến chứng sau phẫu thuật nội soi cắt thân đuôi tụy bảo tồn lách</title>
<link href="http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5115" rel="alternate"/>
<author>
<name>Nguyễn, Hoàng</name>
</author>
<author>
<name>Nguyễn, An Khang</name>
</author>
<id>http://localhost:8080/xmlui/handle/123456789/5115</id>
<updated>2025-10-24T09:30:32Z</updated>
<published>2025-01-01T00:00:00Z</published>
<summary type="text">Nghiên cứu biến chứng sau phẫu thuật nội soi cắt thân đuôi tụy bảo tồn lách
Nguyễn, Hoàng; Nguyễn, An Khang
Đánh giá biến chứng của phẫu thuật nội soi cắt thân đuôi tụy bảo tồn lách theo kĩ thuật của Kimura tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên 12 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi cắt thân đuôi tụy theo kĩ thuật của Kimura tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trong 5 năm từ năm 2018 đến năm 2023. Kết quả: Chúng tôi thực hiện phẫu thuật cắt thân đuôi tụy bảo tồn lách theo kĩ thuật của Kimura cho 12 bệnh nhân. Tuổi trung bình là 35,4 ± 11,3. Tỷ lệ rò tụy sau mổ chiếm 58,3%, trong đó rò tụy mức độ A chiếm 41,6%, rò tụy độ B chiếm 16,6%. Trong số 12 bệnh nhân, không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở hay truyền máu trong mổ. Có 2 trường hợp phải mổ lại do chảy máu sau mổ, một trường hợp mổ nội soi, một trường hợp mổ mở do shock mất máu, không có trường hợp nào tử vong. Kết luận: Phẫu thuật nội soi cắt thân đuôi tụy theo kĩ thuật của Kimura là an toàn và khả thi, có thể áp dụng đối với các khối u lành tính ở thân và đuôi tụy. Tuy nhiên, đây là kĩ thuật khó trong mổ nội soi, tỷ lệ biến chứng sau mổ còn tương đối cao, đòi hỏi phẫu thuật viên phải có nhiều kinh nghiệm và trang thiết bị, dụng cụ phải đầy đủ.
Nghiên cứu biến chứng sau phẫu thuật nội soi cắt thân đuôi tụy bảo tồn lách
</summary>
<dc:date>2025-01-01T00:00:00Z</dc:date>
</entry>
</feed>
